Danh mục

Văn bản

Thống kê

  • Đang truy cập: 7
  • Hôm nay: 695
  • Tháng hiện tại: 24702
  • Tổng lượt truy cập: 1283238

Video

Nông nghiệp phát triển

Sinh vật cảnh trong Nông nghiệp công nghệ cao

Đăng lúc: Thứ bảy - 08/07/2017 09:42 - Người đăng bài viết: admin
Nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC) là nền nông nghiệp được áp dụng những công nghệ mới vào sản xuất, bao gồm: công nghiệp hóa nông nghiệp (cơ giới hóa các khâu của quá trình sản xuất), tự động hóa, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học và các giống cây trồng, giống vật nuôi có năng suất và chất lượng cao, đạt hiệu quả kinh tế cao trên một đơn vị diện tích và phát triển bền vững trên cơ sở canh tác hữu cơ (Theo Vụ Khoa học Công nghệ - Bộ Nông nghiệp và PTNT).

 Làng hoa Sa Đéc (Đồng Tháp); Ảnh: Internet

Để nhận biết và đánh giá NNCNC thường qua bốn tiêu chí cơ bản như:

Tiêu chí kỹ thuật: Có trình độ công nghệ tiên tiến, hiện đại được tạo ra trong nước hoặc nhập ngoại để tạo ra sản phẩm nông nghiệp có giá trị, chất lượng vượt trội so với công nghệ đang sử dụng.

Tiêu chí kinh tế: Sản phẩm do được ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp tạo ra có hiệu quả cao hơn so với công nghệ đang sử dụng và có sức cạnh tranh cao trên thị trường.

Tiêu chí xã hội: Công nghệ cao phải thích hợp với điều kiện khí hậu, thời tiết, đất đai, tập quán của từng vùng sinh thái khác nhau của Việt Nam và được cộng đồng chấp nhận áp dụng.

Tiêu chí môi trường: Công nghệ cao phải ổn định, không có tác động xấu đến đa dạng sinh học, môi trường, sinh thái và sức khỏe con người.

Đối chiếu với mục tiêu của phát triển NNCNC là giải quyết mâu thuẫn giữa năng suất nông nghiệp thấp, sản phẩm chất lượng thấp, đầu tư công lao động nhiều, hiệu quả kinh tế thấp với việc áp dụng những thành tư khoa học công nghệ để đảm bảo nông nghiệp tăng trưởng ổn định với năng suất và sản lượng cao, hiệu quả và chất lượng cao; Thực hiện tốt nhất sự phối hợp giữa con người và tài nguyên, làm cho ưu thế của nguồn tài nguyên đạt hiệu quả lớn nhất, hài hòa và thống nhất lợi ích xã hội, kinh tế và sinh thái môi trường…thì lĩnh vực Sinh vật cảnh mà trước mắt là hoa, cây cảnh, cá cảnh là những mặt hàng có nhiều ưu thế để phát triển nhanh, mạnh và bền vững so với các mặt hàng khác trong ngành nông nghiệp.

Khát vọng làng lúa làng hoa, Trang bìa Tạp chí Việt Nam Hương Sắc.

Thời gian qua, sản xuất nông nghiệp nước ta đã có những chuyển biến đáng kể về ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao, nhất là trong sản xuất hoa, cây cảnh, cá cảnh đã tạo ra những tiến bộ đáng khích lệ về năng suất, chất lượng sản phẩm, tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.

Theo số liệu thống kê 2014, tổng diện tích sản xuất hoa, cây cảnh cả nước là 34.978 ha, diện tích này được phân bổ khá đều ở cả hai miền Nam và Bắc. Thu nhập trung bình trồng hoa, cây cảnh là 285 triệu đồng/ha/năm (năm 2014), so với giá trị thu nhập/ha canh tác toàn ngành trồng trọt là 82 - 83 triệu đồng/ha, mức thu nhập này gấp gần 3,5 lần.  Tính đến cuối năm 2015, cả nước có 29 khu nông nghiệp công nghệ cao, các mô hình NNCNC trong sản xuất rau, hoa đã tạo ra năng suất cây trồng và năng suất lao động cao gấp 3 - 5 lần , giá trị thu nhập từ vài trăm triệu đến hàng tỷ đồng/ha (gấp 2 - 8 lần so với canh tác truyền thống); đồng thời tạo khối lượng sản phẩm hàng hóa có chất lượng cao và đồng nhất, đáp ứng các yêu cầu về an toàn vệ sinh thực phẩm; đã hình thành nhiều mô hình liên kết hợp tác giữa các hộ sản xuất, chủ trang trại, các HTX sản xuất với các doanh nghiệp chế biến, phân phối sản phẩm theo chuỗi khép kín, gắn với xây dựng và phát triển thương hiệu sản phẩm, góp phần tích cực vào tái cơ cấu nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Riêng năm 2016, giá trị xuất khẩu hoa cây cảnh đạt trên 50 triệu USD.

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn TP. Hồ Chí Minh, số lượng cơ sở sản xuất và kinh doanh cá cảnh của thành phố đang tăng mạnh, đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ của thị trường cả nước. Đến nay, thành phố đã có trên 286 cơ sở sản xuất cá cảnh (tập trung tại các quận huyện ngoại thành), có sản lượng đạt trên 120 triệu con/năm, với 70 loài cá cảnh khác nhau, trong đó có 50 loài nhân tạo. Toàn thành phố hiện có 278 cửa hàng kinh doanh cá cảnh và trên 10 DN xuất nhập khẩu cá cảnh. Kim ngạch xuất khẩu cá cảnh của thành phố tăng từng năm. Cụ thể, nếu năm 2015 thành phố đã xuất khẩu 13 triệu con cá cảnh, đạt kim ngạch 12 triệu USD, thì trong 10 tháng đầu năm 2016 đã xuất khẩu 12,627  triệu USD, tăng 14,3% so với cùng kỳ năm 2015. Những loại cá cảnh Việt Nam được thị trường thế giới ưa chuộng như cá dĩa, neon, bảy màu, hòa lan, phượng hoàng, tai tượng, tiên ông… Cá cảnh Việt Nam đã xuất khẩu đến gần 50 quốc gia, vùng lãnh thổ, trong đó các nước châu Âu chiếm 70%. Mục tiêu phát triển ngành cá cảnh của thành phố đến năm 2020 là sẽ đạt sản lượng 180 triệu con cá cảnh, xuất khẩu 50 triệu con, với kim ngạch đạt từ 40 - 50 triệu USD; và 100% cơ sở xuất khẩu cá cảnh tham gia chương trình giám sát an toàn dịch bệnh của thành phố, đủ điều kiện xuất khẩu vào thị trường hiện có và mở rộng thêm nhiều thị trường mới.

Tuy nhiên nhiều địa phương việc xây dựng các mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao còn nhiều lúng túng, bất cập, thiếu tính ứng dụng và thực tiễn dẫn đến tình trạng kém hiệu quả, lãng phí và phát triển không bền vững. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên là do hiểu biết một cách chưa đầy đủ về nông nghiệp công nghệ cao, khả năng xác định những yếu tố công nghệ cao phù hợp với một nền nông nghiệp nhiệt đới, sản xuất còn mạng nặng tính tự phát, nhỏ lẻ và hạn chế về năng lực đầu tư tài chính, sức cạnh tranh kém…

Trong thời gian vừa qua, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích phát triển NNCNC như: Luật Công nghệ cao, các văn bản chính sách liên quan đến nông nghiệp công nghệ cao như: Quyết định 1895/QĐ- TTg; Quyết định số 575/QĐ- TTg ngày 04/5/2015 về phê duyệt tổng thể quy hoạch các khu và vùng NNCNC đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 và các quyết định thành lập và ban hành quy chế hoạt động của các Khu NNCNC của một số tỉnh, thành phố trực thuộc TW; Quyết định số 66/2015/QĐ - TTg ngày 25/12/2015 quy định tiêu chí, thẩm quyền, trình tự, thủ tục công nhận vùng NNCNC. Nhiều địa phương trong cả nước cũng đã cụ thể nhiều chính sách khuyến khích phát triển hoa cây cảnh, cá cảnh. Đặc biệt gần đây Chính phủ đã quyết định hỗ trợ gói tín dụng 100 ngàn tỉ đồng cho lĩnh vực NNCNC, nông nghiệp sạch với lãi suất phù hợp, thấp hơn từ 0,5 - 1,5% so với lãi suất thị trường. Đây là một điều kiện thuận lợi chưa từng có từ trước đến nay cho nông nghiệp nói chung và lĩnh vực hoa, cây cảnh, cá cảnh nói riêng.

Để khắc phục một số tồn tại cũng như tận dụng tốt nhất những thuận lợi nêu trên, công tác định hướng phát triển hoa cây cảnh, cá cảnh trong NNCNC trong thời gian tới rất cần được chú trọng theo các hướng chủ yếu như sau: Gắn định hướng phát triển hoa cây cảnh, cá cảnh với chương trình phát triển công nghệ cao trong trồng trọt; Tiếp tục đầu tư nguồn lực cho khoa học công nghệ, nghiên cứu chọn tạo, nâng cao năng lực sản xuất hạt giống, cây giống bằng các phương pháp truyền thống và công nghệ mới, xây dựng các mô hình, chuyển giao cho nông dân và doanh nghiệp; Hoàn thiện thể chế chính sách về đất đai, đầu tư, hỗ trợ đầu tư; Liên kết sản xuất theo chuỗi và hình thành thị trường nội tiêu và xuất khẩu hoa cây cảnh, cá cảnh; Cần có một chương trình quốc gia về hoa cây cảnh, cá cảnh đến những chính sách khuyến khích phát triển và xã hội hóa ngành hoa cây cảnh, cá cảnh như: Hỗ trợ về thuê đất đai, tích tụ ruộng đất; về vốn vay từ các ngân hàng; về chính sách thuế; về KHCN; về đào tạo nguồn nhân lực, dạy nghề cho người dân…

Tác giả bài viết: Quyết Tuấn
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Giới thiệu chung

Giới thiệu

CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA HỘI 1. Tên giao dịch    - Tên giao dịch bằng tiếng Việt: Hội Khoa học phát triển nông thôn Việt Nam   - Tên giao dịch bằng tiếng Anh: PHANO   - Trụ sở chính: Khu Đô Thị Nam An Khánh, An Khánh, Hoài Đức, Hà Nội.   - Điện thoại: (043) 3216 162 Fax: (043)...

Phano
0433 216 162

Thành viên